Khai báo tạm trú cho người nước ngoài - Cơ sở lưu trú cần chủ động

Cùng với việc tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, việc thực hiện đầy đủ quy định về khai báo tạm trú góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự. Tuy nhiên, không phải cơ sở lưu trú nào cũng nắm rõ trách nhiệm của mình, nhất là đối với các cơ sở lưu trú là nhà, căn hộ cho thuê hoặc những trường hợp việc tiếp nhận khách được thực hiện thông qua đơn vị quản lý, môi giới hay nền tảng số.

23/10/2026

00:00
Nữ Miền Bắc

Khai báo tạm trú là trách nhiệm của cơ sở lưu trú

Theo Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài tạm trú thực hiện khai báo thông qua người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú. Trước khi đồng ý cho người nước ngoài tạm trú, cơ sở lưu trú có trách nhiệm yêu cầu người nước ngoài xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế và giấy tờ liên quan đến cư trú tại Việt Nam để kiểm tra, thực hiện khai báo.

Ngày 09/6/2026, Bộ trưởng Bộ Công an ban hành Thông tư số 87/2026/TT-BCA quy định cách thức thực hiện khai báo, tiếp nhận thông tin tạm trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Theo đó, người khai báo tạm trú là chủ sở hữu cơ sở lưu trú, người đại diện theo pháp luật của cơ sở lưu trú hoặc người được ủy quyền. Quy định này áp dụng đối với các loại hình cơ sở lưu trú có người nước ngoài tạm trú qua đêm, từ khách sạn, nhà nghỉ đến nhà, căn hộ cho thuê và các địa điểm lưu trú khác…

Chủ động xác định người khai báo khi cho thuê qua trung gian

Hiện nay, nhiều chủ nhà, chủ căn hộ không trực tiếp quản lý, vận hành hoặc tiếp nhận khách thuê mà giao việc này cho người khác, đơn vị quản lý vận hành hoặc đơn vị trung gian. Nếu không xác định rõ ai thực hiện khai báo tạm trú cho người nước ngoài, các bên có thể cho rằng bên còn lại đã thực hiện, dẫn đến vi phạm quy định về trách nhiệm khai báo tạm trú cho người nước ngoài.

Vì vậy, chủ sở hữu hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ sở lưu trú cần chủ động xác định, ủy quyền rõ cho người thực hiện khai báo tạm trú; đồng thời phối hợp cung cấp thông tin cần thiết để việc khai báo được thực hiện đầy đủ, chính xác, kịp thời.

Việc ủy quyền cần được làm rõ trong hợp đồng cho thuê, hợp đồng quản lý vận hành hoặc văn bản ủy quyền. Trường hợp có thay đổi người được giao thực hiện, các bên cần kịp thời thống nhất, bảo đảm việc khai báo không bị gián đoạn.

Dù việc cho thuê, tiếp nhận khách được thực hiện qua nhiều khâu trung gian hay thông qua nền tảng số, cơ sở lưu trú vẫn cần bảo đảm người nước ngoài đến tạm trú qua đêm được khai báo theo quy định.

Thuận tiện hơn với khai báo điện tử. Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài được thực hiện trên Hệ thống khai báo tạm trú điện tử của Bộ Công an tại địa chỉ https://tbltkbtt.bocongan.gov.vn. Hệ thống giúp cơ sở lưu trú thực hiện khai báo trực tuyến; thông tin được Công an cấp xã tiếp nhận 24 giờ trong ngày, 07 ngày trong tuần. 

Lưu ý về các hành vi vi phạm

Trường hợp phát hiện người nước ngoài không có hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế, hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú, cơ sở lưu trú phải thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định.

Cơ sở lưu trú không thực hiện khai báo tạm trú theo quy định hoặc cho người nước ngoài tạm trú khi người đó cư trú không hợp pháp tại Việt Nam thì có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ.

2aOboR7UcFNhhpUg0nkIdl0xZk9cn3u6fepvYnho.jpg

Chủ động khai báo tạm trú cho người nước ngoài

Việc khai báo tạm trú cho người nước ngoài góp phần bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài và giữ gìn an ninh, trật tự tại địa bàn. Để thực hiện đầy đủ quy định, các cơ sở lưu trú cần chủ động xác định người có trách nhiệm khai báo, nhất là khi việc cho thuê được thực hiện qua trung gian.

Theo Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, người nước ngoài thực hiện khai báo tạm trú thông qua người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động của cơ sở lưu trú. Trước khi đồng ý cho người nước ngoài tạm trú, cơ sở lưu trú có trách nhiệm yêu cầu xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế, giấy tờ liên quan đến cư trú để kiểm tra và thực hiện khai báo.

Thông tư số 87/2026/TT-BCA của Bộ Công an quy định người khai báo tạm trú là chủ sở hữu cơ sở lưu trú, người đại diện theo pháp luật của cơ sở lưu trú hoặc người được ủy quyền. Việc khai báo được thực hiện đối với người nước ngoài tạm trú qua đêm, kể cả trường hợp chỉ ở 01 đêm.

Trên thực tế, nhiều chủ nhà, chủ căn hộ không trực tiếp tiếp nhận khách mà giao việc quản lý, cho thuê cho người khác hoặc đơn vị vận hành. Nếu không xác định rõ người thực hiện khai báo, các bên có thể cho rằng bên còn lại đã thực hiện, dẫn đến bỏ sót việc khai báo khi người nước ngoài đến ở.

Vì vậy, chủ sở hữu hoặc người đại diện theo pháp luật của cơ sở lưu trú cần chủ động xác định, ủy quyền rõ người thực hiện khai báo tạm trú. Nội dung này nên được làm rõ trong hợp đồng cho thuê, hợp đồng quản lý vận hành hoặc văn bản ủy quyền. Việc tiếp nhận khách qua nền tảng số cũng không làm thay đổi trách nhiệm khai báo tạm trú của cơ sở lưu trú.

Việc khai báo được thực hiện ngay khi người nước ngoài đến cơ sở lưu trú thông qua Hệ thống khai báo tạm trú điện tử của Bộ Công an tại địa chỉ https://tbltkbtt.bocongan.gov.vn. Trường hợp không thể khai báo qua hệ thống điện tử, người khai báo thực hiện khai và chuyển Phiếu khai báo tạm trú đến Công an cấp xã theo quy định.

Cơ sở lưu trú cần khai báo đầy đủ, chính xác thông tin; người nước ngoài phối hợp xuất trình giấy tờ khi đến ở. Khi gặp khó khăn, vướng mắc, cơ sở lưu trú có thể liên hệ Công an cấp xã nơi đặt cơ sở để được hướng dẫn, hỗ trợ.

Ban Biên tập

In
Chia sẻFacebook

Văn bản xem nhiều trong tháng

Bộ công an - trang chính sách, pháp luật về an ninh trật tự

Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an

Chính sách, pháp luật về an ninh trật tự

Địa chỉ: 96 Nguyễn Du, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội

Email: bandoc@mps.gov.vn - Website: www.mps.gov.vn hoặc www.bocongan.gov.vn

Bản quyền thuộc về Bộ Công an.

Khi sử dụng lại thông tin, đề nghị ghi rõ nguồn "Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an"

BỘ VỚI CÔNG DÂN