Khuyến cáo giải pháp bảo đảm an toàn và trách nhiệm pháp lý trong vận chuyển pin lithium-ion dung lượng lớn

Cùng với sự phát triển của xe điện, hệ thống lưu trữ năng lượng, thiết bị công nghiệp và các phương tiện sử dụng điện, nhu cầu vận chuyển pin lithium-ion dung lượng lớn ngày càng tăng. Tuy nhiên, đây không phải là loại hàng hóa thông thường. Khi bị va đập mạnh, chèn ép, đoản mạch, quá nhiệt, hư hỏng đầu cực, biến dạng vỏ bảo vệ hoặc xuất hiện khuyết tật bên trong, pin có thể phát nhiệt, bốc khói, cháy và chuyển sang trạng thái mất ổn định nhiệt. Sự cố có thể lan truyền từ cell pin này sang cell pin khác, sinh ra nhiều khói, khí độc, khí dễ cháy và tiềm ẩn nguy cơ tái cháy sau khi ngọn lửa bên ngoài đã được dập tắt. Do đó, việc vận chuyển pin lithium-ion dung lượng lớn phải được kiểm soát chặt chẽ từ khâu xác định hàng hóa, đóng gói, xếp dỡ, lựa chọn phương tiện, chuẩn bị hồ sơ, tập huấn người tham gia vận chuyển đến tổ chức xử lý khi có sự cố. Vi phạm các yêu cầu này có thể dẫn đến trách nhiệm hành chính, hình sự và nghĩa vụ bồi thường dân sự với giá trị rất lớn.

31/07/2026

00:00
Nữ Miền Bắc

Quy định pháp luật hiện hành và khuyến cáo bảo đảm an toàn

Theo Danh mục hàng hóa nguy hiểm ban hành kèm theo Nghị định số 161/2024/NĐ-CP, pin lithium-ion được gọi thống nhất là “ắc quy ion liti” và thuộc hàng hóa nguy hiểm loại 9 – các chất và vật phẩm nguy hiểm khác.

Tùy theo trạng thái và hình thức vận chuyển, hàng hóa có thể được xác định khác nhau. Pin, cell pin, module, pack pin hoặc bộ lưu trữ năng lượng được vận chuyển riêng, chưa lắp trong thiết bị thuộc UN 3480, loại 9, sử dụng biểu trưng nguy hiểm 9A. Pin được lắp trong thiết bị hoặc được đóng gói cùng thiết bị thuộc UN 3481, loại 9, sử dụng biểu trưng nguy hiểm 9A. Đối với xe điện, máy móc hoặc thiết bị chạy bằng ắc quy được vận chuyển nguyên chiếc, hàng hóa có thể được xác định là xe hoặc thiết bị chạy bằng ắc quy thuộc UN 3171, loại 9. Người dân và lái xe không nhất thiết phải ghi nhớ toàn bộ mã số kỹ thuật, nhưng cần hiểu nguyên tắc cơ bản: pin lithium-ion dung lượng lớn là hàng hóa có nguy cơ cao và không được tiếp nhận, xếp lên xe hoặc vận chuyển như hàng hóa thông thường.

Theo Nghị định số 161/2024/NĐ-CP, trách nhiệm bảo đảm an toàn được phân định cho người thuê vận tải, người vận tải, người lái xe, người áp tải và người thực hiện việc xếp, dỡ hàng hóa. Người thuê vận tải phải bảo đảm hàng hóa được đóng gói đúng yêu cầu, có nhãn hàng hóa, biểu trưng và báo hiệu nguy hiểm phù hợp; lập hồ sơ vận chuyển; thông báo bằng văn bản cho người vận tải về yêu cầu an toàn và biện pháp xử lý khi xảy ra sự cố; tổ chức tập huấn cho người áp tải; cử người áp tải trong trường hợp pháp luật yêu cầu và trang bị phương tiện bảo hộ cần thiết cho người lái xe, người áp tải. 

Người vận tải phải bố trí phương tiện phù hợp, kiểm tra tình trạng an toàn của hàng hóa trước khi vận chuyển và chỉ tiếp nhận chuyến hàng khi hàng hóa đã được đóng gói an toàn, có đủ hồ sơ, thủ tục và giấy phép còn hiệu lực đối với trường hợp pháp luật quy định phải có giấy phép. Phương tiện phải đủ điều kiện tham gia giao thông, được niêm yết biểu trưng nguy hiểm ở vị trí dễ nhận biết và đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật chuyên ngành có liên quan. Người vận tải còn phải tổ chức tập huấn an toàn hàng hóa nguy hiểm cho người lái xe.

Trước khi xuất phát, người lái xe và người áp tải phải kiểm tra hồ sơ vận chuyển, giấy phép trong trường hợp bắt buộc, chứng nhận hoàn thành chương trình tập huấn, nhãn và biểu trưng nguy hiểm trên phương tiện, bao bì hoặc thùng chứa. Trong quá trình vận chuyển, phải theo dõi tình trạng hàng hóa, hạn chế va đập, dịch chuyển, chập điện và các tác động có thể làm phát sinh nhiệt hoặc cháy. Khi phát hiện pin có dấu hiệu phồng, biến dạng, rò rỉ, phát nhiệt, bốc khói, có mùi bất thường hoặc hư hỏng sau va chạm, phải dừng việc vận chuyển khi bảo đảm điều kiện an toàn, cảnh báo người xung quanh và thông báo ngay cho cơ quan có thẩm quyền, người vận tải và người thuê vận tải. Không tự ý tháo mở bộ pin, chạm vào phần bị hư hỏng hoặc xử lý vượt quá kiến thức, trang thiết bị và năng lực chuyên môn. 

Việc xếp, dỡ phải được thực hiện theo đúng chỉ dẫn của nhà sản xuất, người thuê vận tải hoặc người áp tải. Pin phải được cố định chắc chắn, bảo vệ đầu cực, phòng ngừa đoản mạch, chống va đập và không để dịch chuyển trong thùng xe. Không xếp chung các loại hàng hóa có khả năng tác động với nhau làm tăng mức độ nguy hiểm; không đặt pin gần nguồn nhiệt, nguồn lửa, thiết bị phát tia lửa hoặc khu vực có nguy cơ ngập nước, nhiễm ẩm.

Đối với pin đã qua sử dụng, pin thu hồi, pin bị tai nạn, pin phồng, nứt, biến dạng, cháy xém hoặc có dấu hiệu mất ổn định, mức độ rủi ro cao hơn đáng kể so với pin mới nguyên vẹn. Những trường hợp này phải được đánh giá riêng, cách ly và áp dụng phương án đóng gói, vận chuyển chuyên biệt; không được trộn lẫn với lô pin bình thường chỉ vì có cùng chủng loại hoặc kích thước.

Sau khi dỡ hết hàng hóa, nếu phương tiện không tiếp tục vận chuyển loại hàng hóa nguy hiểm đó thì phải được kiểm tra, làm sạch và bóc hoặc xóa biểu trưng nguy hiểm theo quy định. Việc để nguyên biểu trưng nguy hiểm khi phương tiện đã chuyển sang vận chuyển hàng hóa thông thường có thể gây nhầm lẫn cho người tham gia giao thông và lực lượng xử lý sự cố. 

Xử phạt đối với vi phạm quy định về vận chuyển hàng hóa nguy hiểm

Theo Điều 23 Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 238/2026/NĐ-CP, người điều khiển phương tiện vi phạm quy định về vận chuyển hàng hóa nguy hiểm bằng đường bộ có thể bị xử phạt theo từng hành vi cụ thể:

Hành vi không làm sạch hoặc không bóc, xóa biểu trưng nguy hiểm trên phương tiện khi không tiếp tục vận chuyển loại hàng hóa nguy hiểm đó bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng.

Hành vi không mang theo hồ sơ vận chuyển do người thuê vận tải cung cấp hoặc không có giấy chứng nhận hoàn thành chương trình tập huấn an toàn phù hợp với loại hàng hóa đang vận chuyển bị phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 3 triệu đồng.

Trường hợp sử dụng xe ô tô vận chuyển hàng hóa nguy hiểm nhưng không dán nhãn, biểu trưng nhận diện hàng hóa nguy hiểm hoặc không lắp đèn, tín hiệu cảnh báo theo quy định, người điều khiển phương tiện bị phạt tiền từ 4 triệu đồng đến 6 triệu đồng.

Hành vi vận chuyển hàng hóa nguy hiểm không có giấy phép trong trường hợp phải có giấy phép, sử dụng giấy phép đã hết hiệu lực hoặc không thực hiện đúng nội dung ghi trong giấy phép bị phạt tiền từ 12 triệu đồng đến 14 triệu đồng.

Ngoài phạt tiền, người điều khiển phương tiện còn có thể bị trừ điểm giấy phép lái xe. Vi phạm về nhãn, biểu trưng, tín hiệu cảnh báo hoặc vận chuyển hàng hóa dễ cháy, nổ qua hầm đường bộ có thể bị trừ 2 điểm; vi phạm về giấy phép vận chuyển có thể bị trừ 4 điểm. Nếu hành vi làm phát sinh ô nhiễm môi trường, người vi phạm còn bị buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm.

Xử phạt đối với vi phạm điều kiện an toàn phòng cháy, chữa cháy

Bên cạnh chế tài trong lĩnh vực giao thông đường bộ, hành vi vi phạm điều kiện an toàn phòng cháy, chữa cháy trong quá trình vận chuyển còn có thể bị xử phạt theo Điều 16 Nghị định số 106/2025/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 69/2026/NĐ-CP. Mức phạt quy định dưới đây áp dụng đối với cá nhân; tổ chức có cùng hành vi vi phạm bị phạt bằng 2 lần mức phạt đối với cá nhân, cụ thể:

Cá nhân sắp xếp, bố trí chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ trên phương tiện không bảo đảm an toàn phòng cháy bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 5 triệu đồng. Nếu chủ thể vi phạm là tổ chức, mức phạt tương ứng từ 6 triệu đồng đến 10 triệu đồng.

Mức phạt từ 5 triệu đồng đến 7 triệu đồng đối với cá nhân được áp dụng khi không duy trì điều kiện an toàn phòng cháy của phương tiện; vận chuyển hàng hóa khác cùng với chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ trái quy định; hoặc chở người không có nhiệm vụ trên phương tiện. Tổ chức có cùng hành vi bị phạt từ 10 triệu đồng đến 14 triệu đồng.

Cá nhân không thực hiện điều kiện bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy khi bốc, dỡ, bơm, chuyển chất, hàng hóa nguy hiểm về cháy, nổ ra khỏi phương tiện; không duy trì biện pháp an toàn phòng cháy đối với thiết bị, đường ống chuyển chất khí, chất lỏng dễ cháy, nổ; hoặc thực hiện việc bốc, dỡ, bơm, chuyển tại địa điểm không bảo đảm an toàn phòng cháy bị phạt từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng. Đối với tổ chức, mức phạt từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng.

Đáng lưu ý, đối với các hành vi thuộc trường hợp luật định, nếu vi phạm làm xảy ra cháy nhưng hậu quả chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì mức phạt tiền được áp dụng gấp 2 lần khung phạt thông thường. Chẳng hạn, cá nhân không bảo đảm an toàn khi bốc, dỡ hàng hóa nguy hiểm có thể bị phạt từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng nếu để xảy ra cháy; tổ chức có cùng hành vi có thể bị phạt từ 80 triệu đồng đến 100 triệu đồng.

Người vi phạm còn bị buộc khôi phục và duy trì điều kiện an toàn phòng cháy của phương tiện; duy trì biện pháp an toàn đối với thiết bị, đường ống; hoặc chuyển hoạt động bốc, dỡ, bơm, chuyển hàng hóa đến địa điểm bảo đảm an toàn theo quy định.

Một hành vi hoặc chuỗi hành vi trong cùng vụ việc có thể đồng thời liên quan đến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và các lĩnh vực quản lý chuyên ngành khác. Việc áp dụng chế tài phải căn cứ vào hành vi cụ thể, chủ thể thực hiện, khách thể quản lý bị xâm phạm và nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính; không phải mọi trường hợp đều tự động cộng tất cả các mức phạt nêu trên.

Trách nhiệm hình sự khi gây hậu quả nghiêm trọng

Khi hành vi vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy trong quá trình vận chuyển pin lithium-ion gây hậu quả đạt ngưỡng luật định, cá nhân có liên quan có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy theo Điều 313 Bộ luật Hình sự. Trách nhiệm hình sự không phát sinh chỉ vì có cháy; cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh hành vi vi phạm quy định PCCC, lỗi của người thực hiện, hậu quả và quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với hậu quả xảy ra, theo đó:

Người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 2 năm đến 5 năm nếu làm chết 1 người; gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của 1 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; gây thương tích cho 2 người trở lên với tổng tỷ lệ từ 61% đến 121%; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.

Mức phạt tù từ 5 năm đến 8 năm được áp dụng nếu làm chết 2 người; gây thương tích cho 2 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 122% đến 200%; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 500 triệu đồng đến dưới 1,5 tỷ đồng.

Mức phạt tù từ 7 năm đến 12 năm được áp dụng nếu làm chết từ 3 người trở lên; gây thương tích cho 3 người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 201% trở lên; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên.

Ngay cả khi hậu quả đặc biệt nghiêm trọng chưa xảy ra, người vi phạm vẫn có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm nếu hành vi có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả làm chết từ 3 người trở lên, gây thương tích cho 3 người trở lên với tổng tỷ lệ từ 201% trở lên hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 1,5 tỷ đồng trở lên, nếu không được ngăn chặn kịp thời. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng và bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

Trường hợp không đủ căn cứ xác định hành vi vi phạm một quy định cụ thể về phòng cháy, chữa cháy nhưng người thực hiện do cẩu thả hoặc vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của người khác thì có thể bị xem xét về Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản theo Điều 180 Bộ luật Hình sự. Nếu thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, hình phạt là cảnh cáo hoặc cải tạo không giam giữ đến 2 năm; nếu thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên, hình phạt là cải tạo không giam giữ từ 2 năm đến 3 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm.

Việc định tội danh không chỉ căn cứ vào giá trị thiệt hại mà phải xem xét toàn bộ hành vi, quy định an toàn đã bị vi phạm, lỗi, chủ thể có nghĩa vụ tuân thủ và quan hệ nhân quả. Vì vậy, không nên hiểu rằng cứ có thiệt hại từ 100 triệu đồng là đương nhiên bị truy cứu theo Điều 313 hoặc Điều 180 Bộ luật Hình sự.

Khuyến cáo nguyên tắc an toàn cần được thực hiện thống nhất là: không nhận vận chuyển khi chưa xác định rõ loại hàng; không chở pin có dấu hiệu hư hỏng khi chưa có phương án chuyên biệt; không xuất phát khi thiếu hồ sơ, cảnh báo, phương tiện và người đã được tập huấn; không tự xử lý sự cố vượt quá khả năng; và phải báo ngay cho cơ quan chức năng khi phát hiện nguy cơ cháy, nổ.

Ban Biên tập

In
Chia sẻFacebook

GÓP Ý DỰ THẢO

Văn bản xem nhiều trong tháng

Bộ công an - trang chính sách, pháp luật về an ninh trật tự

Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an

Chính sách, pháp luật về an ninh trật tự

Địa chỉ: 96 Nguyễn Du, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội

Email: bandoc@mps.gov.vn - Website: www.mps.gov.vn hoặc www.bocongan.gov.vn

Bản quyền thuộc về Bộ Công an.

Khi sử dụng lại thông tin, đề nghị ghi rõ nguồn "Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an"

BỘ VỚI CÔNG DÂN