Nghị định số 58/2026/NĐ-CP đã sửa đổi bổ sung một số quy định góp phần cắt giảm thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả công tác quản lý cư trú, góp phần xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh

Nghị định số 58/2026/NĐ-CP ngày 13/02/2026 của Chính phủ đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 154/2024/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú (sau đây viết gọn là Nghị định số 154/2024/NĐ-CP) với nhiều điểm mới đáng chú ý.

01/04/2026

Theo đó, tại điểm a khoản 3 Điều 5 của Nghị định số 154/2024/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung với nội dung quy định cụ thể trường hợp đăng ký tạm trú vào chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn ở nhờ thì giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp là “văn bản cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân” và văn bản này không phải công chứng hoặc chứng thực. Quy định này tạo hành lang pháp lý rõ ràng, cụ thể trong triển khai thực hiện, bảo đảm thống nhất trong phạm vi toàn quốc. 

Đối với quy định về đăng ký cư trú, Nghị định sửa đổi, bổ sung quy định về việc đăng ký cư trú cho người chưa thành niên, bảo đảm phù hợp với quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự, theo đó, Nghị định sửa đổi, bổ sung Điều 7, trong đó có quy định: Trong thời hạn tối đa 60 ngày, kể từ ngày người chưa thành niên được đăng ký khai sinh thì cha hoặc mẹ hoặc chủ hộ hoặc người giám hộ có trách nhiệm thực hiện thủ tục đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, khai báo thông tin về cư trú cho người chưa thành niên. Trường hợp cha, mẹ, người giám hộ của người dưới 6 tuổi có nơi thường trú nhưng không phải nơi đang thực tế sinh sống thì người dưới 6 tuổi được đăng ký thường trú tại nơi thường trú của cha, mẹ hoặc người giám hộ. Trường hợp đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú cho người dưới 6 tuổi tại nơi thường trú, nơi tạm trú của cha, mẹ, người giám hộ theo quy định khoản 2 Điều này thì cơ quan đăng ký cư trú không phải thực hiện kiểm tra, xác minh điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú (riêng đối với quy định này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 để thống nhất với thời gian có hiệu lực thi hành của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 Luật có liên quan đến an ninh, trật tự).

Nghị định cũng sửa đổi khoản 5 Điều 8 Nghị định số 154/2024/NĐ-CP, quy định cụ thể việc lấy ý kiến đồng ý của chủ hộ, chủ sở hữu chỗ ở hợp pháp, người đại diện hợp pháp, người thừa kế theo quy định pháp luật, cha, mẹ, người giám hộ, thành viên hộ gia đình được thực hiện bằng một trong các hình thức sau: Ghi rõ nội dung đồng ý và ký, ghi rõ họ tên vào Tờ khai thay đổi thông tin cư trú; xác nhận nội dung đồng ý thông qua Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) hoặc dịch vụ công trực tuyến hoặc cơ quan đăng ký cư trú trao đổi, lấy ý kiến trực tiếp thông qua việc kiểm tra, xác minh cư trú; có ý kiến đồng ý bằng văn bản.

07_Cong_an_Van_Don_ra_soat_dan_c-1772324449465.jpg
Cán bộ Công an kiểm tra, hướng dẫn người dân khai báo tạm trú.


Quy định về hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú tại Điều 9 Nghị định định số 154/2024/NĐ-CP đã được sửa đổi nhằm cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa hồ sơ thủ tục cho người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý cư trú, cụ thể như sau:

Đối với trường hợp thuộc diện xóa đăng ký thường trú do bị hủy kết quả đăng ký thường trú thì: Trong thời hạn 01 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú của thủ trưởng cấp trên trực tiếp hoặc ngay sau khi ra quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú đối với công dân, cơ quan đăng ký cư trú thực hiện việc xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Đối với trường hợp thuộc diện xóa đăng ký thường trú do chết; có quyết định của Toà án tuyên bố mất tích hoặc đã chết, đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho trở lại quốc tịch Việt Nam (quy định tại điểm a, đ khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú) thì: Trong thời hạn 01 ngày làm việc, kể từ ngày Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan đăng ký cư trú tiếp nhận thông tin phản ánh về người thuộc trường hợp bị xóa đăng ký thường trú, cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, thực hiện xóa đăng ký thường trú đối với công dân và cập nhật việc xóa đăng ký thường trú vào Cơ sở dữ liệu về cư trú, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. 

Đối với các trường hợp thuộc diện xóa đăng ký thường trú khác (quy định tại điểm b, d, e, g, h, i khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú) thì: Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày hộ gia đình có người thuộc diện xóa đăng ký thường trú thì người thuộc diện xóa đăng ký thường trú hoặc đại diện hộ gia đình hoặc người đại diện theo pháp luật có trách nhiệm thực hiện thủ tục xóa đăng ký thường trú. 

Bên cạnh đó, Nghị định cũng sửa đổi hình thức tiếp nhận hồ sơ quy định Nghị định số 154/2024/NĐ-CP đối với một số trường hợp:  

Cụ thể, sửa đổi quy định tại khoản 3 Điều 3: “Trường hợp công dân nộp hồ sơ đăng ký cư trú và Tờ khai đề nghị xác nhận nơi thường xuyên đậu, đỗ; sử dụng phương tiện vào mục đích để ở (sau đây viết gọn là Tờ khai) theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định này bằng phương thức trực tiếp, trực tuyến hoặc dịch vụ bưu chính công ích đến cơ quan đăng ký cư trú. Cơ quan quan đăng ký cư trú có trách nhiệm chuyển Tờ khai đến Ủy ban nhân dân cấp xã.” Thành “Trường hợp công dân nộp hồ sơ đăng ký cư trú và Tờ khai đề nghị xác nhận nơi thường xuyên đậu, đỗ; sử dụng phương tiện vào mục đích để ở (sau đây viết gọn là Tờ khai) theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định này bằng phương thức trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) đến cơ quan đăng ký cư trú. Cơ quan quan đăng ký cư trú có trách nhiệm chuyển Tờ khai đến Ủy ban nhân dân cấp xã.” 

Sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 4: “Người không có nơi thường trú, nơi tạm trú khai báo thông tin về cư trú theo mẫu Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và nộp trực tuyến, trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính công ích đến cơ quan đăng ký cư trú tại nơi ở hiện tại theo quy định tại Điều 19 Luật Cư trú.” Thành “Người không có nơi thường trú, nơi tạm trú khai báo thông tin về cư trú theo mẫu Tờ khai thay đổi thông tin cư trú và nộp trực tiếp hoặc trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) đến cơ quan đăng ký cư trú tại nơi ở hiện tại theo quy định tại Điều 19 Luật Cư trú.” 

Sửa đổi quy định tại điểm a khoản 12 Điều 8 về xác nhận về điều kiện diện tích bình quân nhà ở để đăng ký thường trú vào chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ; nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở, không thuộc địa điểm không được đăng ký thường trú mới theo quy định: “Công dân nộp 01 hồ sơ đề nghị xác nhận bằng phương thức trực tuyến, trực tiếp, dịch vụ bưu chính công ích tới Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú;” Thành “Công dân nộp 01 hồ sơ đề nghị xác nhận bằng phương thức trực tiếp hoặc trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) tới Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú. 

Những nội dung sửa đổi, bổ sung nêu trên sẽ góp phần đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa hồ sơ thủ tục cho người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý cư trú, qua đó góp phần xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh.

 

Điều 24 của Luật Cư trú quy định:

"Điều 24. Xóa đăng ký thường trú

1. Người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xóa đăng ký thường trú:

a) Chết; có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích hoặc đã chết;

b) Ra nước ngoài để định cư;

c) Đã có quyết định hủy bỏ đăng ký thường trú quy định tại Điều 35 của Luật này;

d) Vắng mặt liên tục tại nơi thường trú từ 12 tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác hoặc không khai báo tạm vắng, trừ trường hợp xuất cảnh ra nước ngoài nhưng không phải để định cư hoặc trường hợp đang chấp hành án phạt tù, chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng;

đ) Đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam;

e) Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ mà sau 12 tháng kể từ ngày chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ vẫn chưa đăng ký thường trú tại chỗ ở mới, trừ trường hợp quy định tại điểm h khoản này;

g) Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở hợp pháp nhưng sau đó quyền sở hữu chỗ ở đó đã chuyển cho người khác mà sau 12 tháng kể từ ngày chuyển quyền sở hữu vẫn chưa đăng ký thường trú tại chỗ ở mới, trừ trường hợp được chủ sở hữu mới đồng ý tiếp tục cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ và cho đăng ký thường trú tại chỗ ở đó hoặc trường hợp quy định tại điểm h khoản này;

h) Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ và không được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý cho giữ đăng ký thường trú tại chỗ ở đó; người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở thuộc quyền sở hữu của mình nhưng đã chuyển quyền sở hữu chỗ ở cho người khác và không được chủ sở hữu mới đồng ý cho giữ đăng ký thường trú tại chỗ ở đó;

i) Người đã đăng ký thường trú tại chỗ ở đã bị phá dỡ, tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tại phương tiện đã bị xóa đăng ký phương tiện theo quy định của pháp luật.

2. Cơ quan đã đăng ký thường trú có thẩm quyền xóa đăng ký thường trú và phải ghi rõ lý do, thời điểm xóa đăng ký thường trú trong Cơ sở dữ liệu về cư trú.

3. Chính phủ quy định chi tiết hồ sơ, thủ tục xóa đăng ký thường trú."

 

Nguyễn Ngọc

In
Chia sẻFacebook

GÓP Ý DỰ THẢO

Bộ công an - trang chính sách, pháp luật về an ninh trật tự

Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an

Chính sách, pháp luật về an ninh trật tự

Địa chỉ: 96 Nguyễn Du, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội

Email: bandoc@mps.gov.vn - Website: www.mps.gov.vn hoặc www.bocongan.gov.vn

Bản quyền thuộc về Bộ Công an.

Khi sử dụng lại thông tin, đề nghị ghi rõ nguồn "Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an"

BỘ VỚI CÔNG DÂN