
Đề xuất “Cơ chế thu thập, tạo lập, khai thác, chia sẻ, giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu”
Bộ Công an đang chủ trì xây dựng dự thảo Nghị định Quy định cơ chế đột phá phát triển cho hoạt động sáng tạo, khai thác dữ liệu của Trung tâm Sáng tạo, khai thác dữ liệu (Trung tâm) thuộc Trung tâm Dữ liệu quốc gia. Trong đó, đáng chú ý, dự thảo Nghị định quy định vòng đời dữ liệu trong hoạt động của Trung tâm, gồm: thu thập, tạo lập dữ liệu; khai thác dữ liệu; chia sẻ dữ liệu; giao dịch dữ liệu; phát triển kinh tế dữ liệu.
17/04/2026
Theo đó, tại Chương II của Dự thảo đã thiết kế 05 nhóm quy định cụ thể hóa và 05 nhóm quy định mang tính chất đột phá.
Nhóm quy định cụ thể hóa
Về thu thập, tạo lập dữ liệu, dự thảo Nghị định cụ thể hóa Điều 11 Luật Dữ liệu theo hướng chuẩn hóa phương thức thu thập, tạo lập dữ liệu tại Trung tâm. Tinh thần xuyên suốt là: ưu tiên dữ liệu điện tử, mặc định dữ liệu số; dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu được kết nối, chia sẻ thì không thu thập lại; dữ liệu phục vụ quản lý Nhà nước, thủ tục hành chính, dịch vụ công phải được số hóa và tạo lập đúng quy định; dữ liệu phát sinh từ quá trình giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công được tích hợp, đồng bộ để phục vụ khai thác lâu dài. Đồng thời bổ sung yêu cầu tuân thủ kiến trúc dữ liệu, từ điển dữ liệu dùng chung, cơ chế kiểm tra, truy vết và gắn nhãn dữ liệu để phục vụ khai thác. Qua đó, bảo đảm liên thông, chuẩn hóa và quản trị rủi ro ngay từ đầu vào.
Về khai thác dữ liệu, Điều 6 cụ thể hóa quy định của Luật Dữ liệu về kết nối, chia sẻ, điều phối và khai thác dữ liệu, nhưng đi xa hơn ở chỗ thiết kế cơ chế vận hành riêng cho Trung tâm. Hoạt động khai thác tại Trung tâm không chỉ là tiếp cận dữ liệu để sử dụng thông thường mà còn phục vụ nghiên cứu, thử nghiệm có kiểm soát, phát triển mô hình, sản phẩm và dịch vụ dữ liệu. Vì vậy, Dự thảo bổ sung cơ chế hỗ trợ khai thác như: kho dữ liệu chuyên đề, kho phân tích; môi trường khai thác dùng chung; mô hình kết nối “một cửa”; ưu tiên băng thông, năng lực xử lý và quyền truy cập cho nhiệm vụ thí điểm; kiểm soát chặt việc truy cập, truy xuất theo đúng quy trình kỹ thuật, đúng mục đích, bảo đảm an toàn, an ninh.
Về chia sẻ dữ liệu, Điều 7 cụ thể hóa cơ chế chia sẻ dữ liệu theo Điều 17 Luật Dữ liệu, nhưng giải quyết khoảng trống hiện nay là thiếu cơ chế phân loại dữ liệu theo mục đích chia sẻ, thiếu điều kiện chia sẻ tương ứng và thiếu hạ tầng kỹ thuật phục vụ chia sẻ trong môi trường Trung tâm. Dự thảo Nghị định quy định theo hướng xây dựng hạ tầng và nền tảng chia sẻ, điều phối dữ liệu, từ đó tăng tính minh bạch, bình đẳng, giảm thao tác thủ công, tăng khả năng giám sát, truy vết và bảo đảm an toàn, an ninh trong quá trình chia sẻ.
Về Giao dịch dữ liệu, Điều 8 cụ thể hóa quy định của Luật Dữ liệu về sàn dữ liệu. Dự thảo xác định rõ bản chất hoạt động giao dịch dữ liệu của Trung tâm, bao gồm: niêm yết dữ liệu; chào bán, trao đổi dữ liệu; quy tắc giao dịch; giám sát, lưu vết giao dịch; xác minh, xác thực, xác nhận dữ liệu; dịch vụ hỗ trợ tuân thủ. Đồng thời, dự thảo Nghị định bổ sung cơ chế thu phí và các cấu phần phí để bảo đảm nguồn lực vận hành sàn, nâng cao chất lượng hỗ trợ giao dịch và kiểm soát rủi ro.
Về phát triển kinh tế dữ liệu, Điều 9 nhằm thể chế hóa chủ trương phát triển thị trường dữ liệu và kinh tế dữ liệu. Dự thảo không chỉ dừng ở định hướng mà thiết lập Khung vận hành kinh tế dữ liệu và Khung kinh tế dữ liệu, xác định trụ cột, hoạt động trọng tâm, cơ chế huy động nguồn lực, cơ chế đo lường và công bố kết quả.
Ý nghĩa của nhóm quy định này là chuyển dữ liệu từ “tài nguyên” sang “tài sản” có thể tạo giá trị, đồng thời giúp Trung tâm có công cụ điều phối, đánh giá tác động và triển khai đồng bộ.
Nhóm quy định mang tính chất đột phá
Thứ nhất, theo quy định tại Dự thảo, cho phép Trung tâm thu thập, tạo lập dữ liệu hành chính theo cơ chế tích hợp, đồng bộ, hình thành dòng dữ liệu đầu vào ổn định, đúng chuẩn, phục vụ phát triển kinh tế dữ liệu.
Thứ hai, Trung tâm được ưu tiên quyền truy cập, khai thác dữ liệu từ Trung tâm Dữ liệu quốc gia và các nguồn dữ liệu hợp pháp khác để phục vụ nghiên cứu, dự báo, thử nghiệm và phát triển sản phẩm, dịch vụ.
Thứ ba, dự thảo Nghị định thiết kế mô hình hỗ trợ khai thác “một cửa” và cơ chế ưu tiên tài nguyên hạ tầng, giúp giảm độ trễ, giảm phụ thuộc vào nhiều đầu mối và tăng tốc triển khai nhiệm vụ sáng tạo.
Thứ tư, dự thảo Nghị định đưa ra danh mục hoạt động tạo giá trị gia tăng từ dữ liệu như phân tích, tổng hợp, làm giàu, trung gian dữ liệu, cung cấp bộ dữ liệu ẩn danh, phát triển nền tảng, mô hình hóa, dự báo, sàn dữ liệu… Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để rút gọn thủ tục và đẩy nhanh thương mại hóa.
Thứ năm, Dự thảo bổ sung cơ chế tài chính cho sàn giao dịch dữ liệu, gồm phí niêm yết, phí giao dịch, phí dịch vụ hỗ trợ và các khoản thu hợp pháp khác, bảo đảm nguồn lực bền vững cho vận hành sàn.
Nội dung của Chương II quy định toàn bộ vòng đời dữ liệu trong hoạt động của Trung tâm, gồm: thu thập, tạo lập dữ liệu; khai thác dữ liệu; chia sẻ dữ liệu; giao dịch dữ liệu; phát triển kinh tế dữ liệu. Đây là Chương nền tảng vì quyết định khả năng hình thành dòng dữ liệu đầu vào, cơ chế khai thác giá trị và môi trường vận hành thị trường dữ liệu.
Tin tức mới cập nhật
Tin đọc nhiều trong tuần

Các mức xử phạt vi phạm nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông
28/01/2025
Những nhiệm vụ của lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở
29/01/2024





