
Sửa đổi, bổ sung quy định về tiêu chuẩn sức khỏe đặc thù và khám sức khỏe đối với lực lượng Công an nhân dân
Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang đã ký ban hành Thông tư số 131/2025/TT-BCA sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 62/2023/TT-BCA ngày 14/11/2023 quy định về tiêu chuẩn sức khỏe đặc thù và khám sức khỏe đối với lực lượng Công an nhân dân nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, bảo đảm thống nhất với các quy định mới của pháp luật liên quan.
23/01/2026
Điều chỉnh tiêu chuẩn sức khỏe trong tuyển sinh, tuyển chọn Công an nhân dân
Điều 2 Thông tư sửa đổi, bổ sung quy định công dân phải đạt sức khỏe Loại 1 hoặc Loại 2; điều chỉnh tiêu chuẩn về thị lực, chiều cao đối với từng nhóm đối tượng, trong đó có công dân là người dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách ưu tiên. Cụ thể: Thị lực không kính mỗi mắt đạt 09-10/10, tổng thị lực 02 mắt đạt 18/10 trở lên. Nếu mắt bị tật khúc xạ: Cận thị, viễn thị thì mỗi mắt không quá 03 (ba) đi-ốp; nếu loạn thị thì loạn thị sinh lý hoặc mỗi mắt dưới 01 (một) đi-ốp; kiểm tra thị lực một mắt qua kính tối thiểu đạt 09/10, tổng thị lực hai mắt qua kính đạt từ 19/10 trở lên, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 4.
Công dân dự tuyển vào các trường Công an nhân dân là người dân tộc thiểu số: Chiều cao từ 1m62 đến 1m95 đối với nam, từ 1m56 đến 1m80 đối với nữ. Công dân thuộc đối tượng chính sách ưu tiên 01 Nhóm UT1 tại Phụ lục II Thông tư số 08/2022/TT-BGDĐT ngày 06 tháng 6 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định ban hành quy chế tuyển sinh đại học, tuyển sinh cao đẳng ngành giáo dục mầm non được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 06/2025/TT-BGDĐT: Chiều cao từ 1m60 đến 1m95 đối với nam, từ 1m55 đến 1m80 đối với nữ.
Công dân dự tuyển vào các trường Công an nhân dân thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh và hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người: Chiều cao từ 1m58 đến 1m95 đối với nam, từ 1m52 đến 1m80 đối với nữ.
Hoàn thiện phương pháp chấm điểm và phân loại sức khỏe
Bổ sung phương pháp cho điểm từ 1 đến 6 và phân loại sức khỏe từ Loại 1 đến Loại 6; đồng thời quy định rõ các trường hợp không tính điểm đối với một số chỉ tiêu sức khỏe khi phân loại như:
- Trường hợp công dân tham gia tuyển sinh, tuyển chọn vào Công an nhân dân (trừ trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 7) và hạ sĩ quan nghĩa vụ hết thời hạn phục vụ tại ngũ trong Công an nhân dân được xét chuyển sang chế độ phục vụ chuyên nghiệp, khi phân loại sức khoẻ theo quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và điểm e khoản 3 Điều 7 thì không tính điểm để phân loại sức khoẻ đối với chỉ tiêu về chiều cao, thị lực quy định tại Điều 4 và các chỉ tiêu sức khoẻ được quy định tại Phụ lục X ban hành kèm theo Thông tư này;
- Trường hợp công dân dự tuyển giáo dục văn hóa bậc trung học phổ thông, khi phân loại sức khoẻ theo quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 3 Điều 7 thì không tính điểm để phân loại sức khoẻ đối với chỉ tiêu về chiều cao, thị lực quy định tại Điều 4, chỉ tiêu sức khoẻ được quy định tại Phụ lục X ban hành kèm theo Thông tư này, chỉ số khối cơ thể (BMI) và chỉ tiêu về vòng ngực.
Siết chặt yêu cầu kiểm tra ma túy và nội dung xét nghiệm cận lâm sàng
Thông tư này bổ sung quy định về chỉ số đặc thù là: Không phát hiện dương tính (bằng phương pháp test nhanh hoặc xét nghiệm máu) với các chất ma túy, tiền chất ma túy theo quy định tại Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 90/2024/NĐ-CP.
Sửa đổi, bổ sung nội dung khám cận lâm sàng, trong đó xét nghiệm máu: Công thức máu; nhóm máu, glucose, AST, ALT, urê, creatinin, HIV, HBsAg, anti-HCV; xét nghiệm nước tiểu gồm tổng phân tích nước tiểu, ma túy và tiền chất; chụp X - quang tim phổi thẳng; siêu âm ổ bụng tổng quát; điện tim.
Đối với xác định HBsAg thì sử dụng biện pháp xét nghiệm miễn dịch tự động; đối với xác định HIV và anti-HCV thì sử dụng biện pháp test nhanh.
Trường hợp cần thiết, có thể chỉ định khám cận lâm sàng khác phục vụ cho kết luận sức khỏe theo yêu cầu của Hội đồng hoặc Ban khám sức khỏe.







