
Chủ động phòng ngừa vi phạm, Công an Cà Mau đồng hành tạo môi trường an toàn cho doanh nghiệp phát triển
Trong bối cảnh kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, việc xây dựng môi trường đầu tư an toàn, minh bạch không chỉ là nhiệm vụ của các cấp, các ngành mà còn là trách nhiệm của lực lượng Công an trong công tác bảo đảm an ninh, trật tự (ANTT). Với phương châm “lấy phòng ngừa là chính”, Công an tỉnh Cà Mau đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tuyên truyền, hướng dẫn, cảnh báo sớm các nguy cơ vi phạm pháp luật, góp phần đồng hành cùng doanh nghiệp, hộ kinh doanh phát triển ổn định, bền vững. Đây cũng là một trong những giải pháp thiết thực nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, tạo dựng môi trường sản xuất, kinh doanh an toàn, lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.
20/07/2026
Đồng hành cùng sự phát triển của doanh nghiệp
Những năm gần đây, kinh tế Cà Mau ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực. Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, đã có hơn 800 doanh nghiệp thành lập mới, đưa tổng số doanh nghiệp trên địa bàn lên 11.200 doanh nghiệp, phấn đấu đến năm 2030 có 20.000 doanh nghiệp hoạt động. Sự phát triển mạnh mẽ ấy đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác bảo đảm ANTT. Bởi thực tế cho thấy, một môi trường đầu tư hấp dẫn không chỉ được quyết định bởi cơ chế, chính sách mà còn phụ thuộc rất lớn vào mức độ an toàn, ổn định của địa bàn.
Nhận thức rõ điều đó, Công an tỉnh Cà Mau đã chuyển mạnh tư duy từ “xử lý vi phạm” sang “chủ động phòng ngừa”, coi việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hướng dẫn doanh nghiệp nhận diện và phòng tránh rủi ro là giải pháp căn cơ, lâu dài.
Phòng ngừa từ sớm, từ xa để doanh nghiệp không vi phạm
Từ thực tiễn công tác, lực lượng Công an đã tập trung cảnh báo các nhóm nguy cơ phổ biến mà doanh nghiệp, hộ kinh doanh thường gặp. Trong lĩnh vực kinh doanh phân bón, sản phẩm xử lý môi trường, lực lượng Cảnh sát kinh tế thường xuyên phối hợp tuyên truyền, nhắc nhở, phòng ngừa vi phạm nhất là đối với hành vi vi phạm về thời hạn sử dụng hàng hóa, hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ được quy định tại Điều 17, Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, ngày 26/8/2020 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2022/NĐ-CP và Nghị định số 24/2025/NĐ-CP), cụ thể như sau:
“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị dưới 1.000.000 đồng:
a) Kinh doanh hàng hóa (trừ thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi) quá hạn sử dụng ghi trên nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa;
b) Đánh tráo, thay đổi nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa hoặc tẩy xóa, sửa chữa thời hạn sử dụng trên nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa hoặc thực hiện hành vi gian lận khác nhằm kéo dài thời hạn sử dụng của hàng hóa;
c) Kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ;
d) Mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, tiêu thụ khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp.
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 1.000.000 đến dưới 3.000.000 đồng.
3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 3.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng.
4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng.
5. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 20.000.000 đồng.
6. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng.
7. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 30.000.000 đồng đến dưới 40.000.000 đồng.
8. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 40.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.
9. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 70.000.000 đồng.
10. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 70.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng.
11. Phạt tiền từ 40.000 000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa vi phạm có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên.
12. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt quy định từ khoản 1 đến khoản 11 Điều này đối với người sản xuất, nhập khẩu thực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc hàng hóa vi phạm thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Là thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bảo quản thực phẩm, thuốc phòng bệnh và thuốc, nguyên liệu làm thuốc, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế;
b) Là chất tẩy rửa, hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản, sản phẩm xử lý chất thải chăn nuôi, thuốc thú y, phân bón, xi măng, chất kích thích tăng trưởng, giống cây trồng, giống vật nuôi, giống thủy sản, thức ăn thủy sản;
c) Hàng hóa khác thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
13. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tịch thu tang vật đối với hành vi vi phạm quy định tại Điều này, trừ trường hợp áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại điểm a khoản 14 Điều này;
b) Tịch thu phương tiện là công cụ, máy móc được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
14. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc tiêu hủy tang vật vi phạm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a, b và c khoản 1 Điều này;
b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điều này.”
Đưa pháp luật đến gần doanh nghiệp
Cùng với công tác bảo đảm ANTT, hoạt động tuyên truyền về PCCC và cứu nạn, cứu hộ cũng được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Trong thời gian qua, Công an tỉnh đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật và hướng dẫn xây dựng phong trào toàn dân tham gia PCCC cho hơn 17.000 lượt người là chủ doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người lao động trên địa bàn tỉnh.
Song song đó, lực lượng Công an đã tổ chức hơn 1.400 lượt kiểm tra đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh trên các lĩnh vực PCCC, kinh tế, môi trường, an toàn thực phẩm..., qua đó phát hiện, chấn chỉnh nhiều tồn tại liên quan đến điều kiện an toàn PCCC, nhất là thông báo các lỗi vi phạm về trang bị, lắp đặt phương tiện PCCC và CNCH, có thể bị xử phạt hành chính theo Điều 20, Nghị định số 106/2025/NĐ-CP, ngày 15/5/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực PCCC và CNCH, cụ thể như sau:
“1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi trang bị phương tiện chữa cháy thông dụng, dụng cụ phá dỡ thô sơ không bảo đảm theo quy định.
2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không trang bị, lắp đặt phương tiện chữa cháy thông dụng, dụng cụ phá dỡ thô sơ.
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với hành vi trang bị, lắp đặt đèn, phương tiện chiếu sáng sự cố, chỉ dẫn thoát nạn không bảo đảm theo quy định.
4. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cho Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cơ sở, Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chuyên ngành không bảo đảm theo quy định.
5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không trang bị, lắp đặt đèn, phương tiện chiếu sáng sự cố, chỉ dẫn thoát nạn.
6. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cho Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cơ sở.
7. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi không trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cho Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chuyên ngành.
8. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Trang bị, lắp đặt thiết bị thuộc hệ thống báo cháy không bảo đảm theo quy định;
b) Trang bị, lắp đặt thiết bị thuộc hệ thống chữa cháy không bảo đảm theo quy định.
9. Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Không trang bị, lắp đặt hệ thống báo cháy;
b) Không trang bị, lắp đặt hệ thống chữa cháy;
c) Không trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới.
10. Phạt tiền gấp hai lần mức tiền phạt đối với các hành vi quy định tại các khoản 2, 5, 6 và khoản 7 Điều này khi để xảy ra cháy nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
11. Hình thức xử phạt bổ sung:
Đình chỉ hoạt động từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a và điểm b khoản 9 Điều này.
12. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc trang bị phương tiện chữa cháy thông dụng, dụng cụ phá dỡ thô sơ đối với hành vi vi phạm tại khoản 1 Điều này;
b) Buộc trang bị, lắp đặt đèn, phương tiện chiếu sáng sự cố, chỉ dẫn thoát nạn đối với hành vi vi phạm tại khoản 3 Điều này;
c) Buộc trang bị phương tiện phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cho Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ cơ sở, Đội phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chuyên ngành đối với hành vi vi phạm tại khoản 4 Điều này;
d) Buộc trang bị, lắp đặt hệ thống báo cháy đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 8 Điều này;
đ) Buộc trang bị, lắp đặt hệ thống chữa cháy đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 8 Điều này”.
Bên cạnh các buổi tuyên truyền tập trung, lực lượng Công an còn đa dạng hóa hình thức truyền thông thông qua mạng xã hội, các nhóm Zalo, fanpage, hệ thống truyền thanh cơ sở, góp phần đưa chính sách pháp luật đến gần hơn với cộng đồng doanh nghiệp.
Chủ động phòng ngừa để phát triển bền vững
Thực tế cho thấy, mỗi thông tin cảnh báo kịp thời có thể giúp doanh nghiệp tránh được những thiệt hại lớn; mỗi cuộc tuyên truyền hiệu quả có thể ngăn ngừa nhiều hành vi vi phạm phát sinh ngay từ cơ sở.
Trong thời gian tới, Công an tỉnh Cà Mau sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ số trong giải quyết thủ tục liên quan đến ANTT; tăng cường nắm tình hình, chủ động đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm; đồng thời tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền để doanh nghiệp dễ tiếp cận, dễ thực hiện.
Với phương châm “đồng hành nhưng không buông lỏng quản lý; hỗ trợ nhưng kiên quyết xử lý các hành vi cố tình vi phạm”, lực lượng Công an tỉnh Cà Mau đang khẳng định vai trò là điểm tựa vững chắc của cộng đồng doanh nghiệp. Không chỉ giữ gìn môi trường ANTT ổn định, lực lượng Công an còn góp phần xây dựng niềm tin, chủ động tuyên truyền, phòng ngừa các vi phạm, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của tỉnh Cà Mau trong giai đoạn mới.
Tin tức mới cập nhật
Tin đọc nhiều trong tuần

Các mức xử phạt vi phạm nồng độ cồn đối với người điều khiển phương tiện giao thông
28/01/2025
Dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi): Đề xuất điều chỉnh mức phạt tiền đối với một số tội danh nhằm tăng tính răn đe, phòng ngừa tội phạm
16/07/2026





